Ôn tập Tiếng Việt Lớp 5 - Tuần 1
Bạn đang xem tài liệu "Ôn tập Tiếng Việt Lớp 5 - Tuần 1", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
on_tap_tieng_viet_lop_5_tuan_1.docx
Nội dung tài liệu: Ôn tập Tiếng Việt Lớp 5 - Tuần 1
- Tuần 1 Tập đọc Thư gửi các học sinh (trang 5 Tiếng Việt lớp 5 Tập 1) Nội dung chính Bài đọc là bức thư của chủ tịch Hồ Chí Minh gửi các em học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên sau khi đất nước giành được chủ quyền. Bác nhắc nhở các bạn học sinh về sự hi sinh của nhiều người mới có nền độc lập, các bạn cần cố gắng học tập vì tương lai đất nước nằm trong tay các bạn. Các em tự đọc bài nhiều lần nhe và sau đó đọc kết hợp trả lời câu hỏi. Câu 1 (trang 5 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1): Những ngày khai trường tháng 9 năm 1945 có gì đặc biệt so với những ngày khai trường khác? ➢ Trả lời: - Là ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ CỘng hòa, ngày khai trường ở nước Việt Nam độc lập sau nhiều năm bị thực dân Pháp đô hộ. - Từ giờ phút này trở đi, các em bắt đầu được nhận một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam. Câu 2 (trang 5 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1): Sau Cách mạng tháng Tám, nhiệm vụ của toàn dân là gì? ➢ Trả lời: Toàn dân xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên ta đã để lại, làm cho nước ta theo kịp các nước khác trên toàn cầu. Câu 3 (trang 5 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1): Học sinh có trách nhiệm như thế nào trong cuộc kiến thiết đất nước? ➢ Trả lời: Học sinh phải cố gắng, siêng năng học tập, ngoan ngoãn, nghe thầy, yêu bạn để mai sau khôn lớn xây dựng đất nước, làm cho dân tộc Việt Nam bước tới đài vinh quang, sánh vai với các cường quốc năm châu. Câu 4 (trang 5 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1): Học thuộc lòng đoạn thư từ Sau 80 năm giời nô lệ đến nhờ một phần lớn ở công học tập của các em. ➢ Trả lời: Học sinh tự học. Chính tả nghe viết Việt Nam thân yêu (trang 6, 7 Tiếng Việt lớp 5 Tập 1) Câu 1 (trang 6 sgk Tiếng Việt 5 Tập 1): Nghe – viết: Việt Nam thân yêu Trả lời:Học sinh tự viết. Câu 2 (trang 6 sgk Tiếng Việt 5 Tập 1): Tìm tiếng thích hợp với mỗi ô trống để hoàn chỉnh bài văn sau. Biết rằng: 1: Chứa tiếng bắt đầu bằng chữ ng hoặc ngh. 2: Chứa tiếng bắt đầu bằng chữ g hoặc gh. 3: Chứa tiếng bắt đầu bằng chữ c hoặc k.
- ➢ Trả lời: Ngày Độc lập Mùng 2 tháng 9 năm 1945 – một ngày đáng ghi nhớ. Hà Nội tưng bừng màu đỏ. Một vùng trời bát ngát cờ, đèn, hoa và biểu ngữ. Các nhà máy đều nghỉ việc. Chợ búa không họp. Mọi hoạt động sản xuất, buôn bán của thành phố tạm ngừng. Già, trẻ, gái, trai đều xuống đường. Mọi người đều thấy mình cần có mặt trong ngày hội lớn của dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trước hàng triệu đồng bào. Lời của vị lãnh tụ điềm đạm, ấm áp, khúc chiết, rõ ràng; từng câu, từng tiếng đi vào lòng người. Đọc đến nửa chừng, Bác dừng lại hỏi: - Tôi nói, đồng bào nghe rõ không? Người người cùng đáp, tiếng dậy vang như sấm: - Co o ó! Từ giây phút đó, Bác cùng với cả biển người đã hòa làm một. Buổi lễ kết thúc bằng những lời thề độc lập. Đó là ý chí của toàn dân Việt Nam kiên quyết thực hiện lời Chủ tịch trong bản Tuyên ngôn : "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy". Lịch sử đã sang trang. Một kỉ nguyên mới bắt đầu: kỉ nguyên của Độc lập, Tự do, Hạnh phúc. Theo Võ Nguyên Giáp Câu 3 (trang 7 sgk Tiếng Việt 5 Tập 1): Tìm chữ thích hợp với mỗi ô trống: ➢ Trả lời: Kể chuyện Lý Tự Trọng (trang 9 Tiếng Việt lớp 5 tập 1) Câu 1 (trang 9 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1): Dựa vào lời kể của cô giáo (thầy giáo), em hãy thuyết minh nội dung mỗi tranh dưới đây bằng 1 hoặc 2 câu. ➢ Trả lời: ✓ Tranh 1: Lý Tự Trọng là một thiếu niên rất sáng dạ. Anh được tổ chức cách mạng giác ngộ và gửi ra nước ngoài học tập. ✓ Tranh 2: về nước, anh được cấp trên giao nhiệm vụ chuyển nhận thư từ, tài liệu, trao đổi với các tổ chức Đảng bạn bè qua đường tàu biển. ✓ Tranh 3: Lý Tự Trọng rất nhanh trí, gan dạ và bình tĩnh trong công việc. Nhiều lần, anh thoát khỏi sự vây bủa của lũ mật thám Pháp. ✓ Tranh 4: Trong một buổi mít-tinh, anh đã bắn chết tên mật thám để cứu đồng chí nên bị giặc bắt. ✓ Tranh 5: Trước toà án thực dân, anh vẫn hiên ngang khẳng định lí tưởng cách mạng của mình.
- ✓ Tranh 6: Ra pháp trường, Lý Tự Trọng vẫn hát vang bài Quốc tế ca. Câu 2 (trang 9 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1): Kể lại toàn bộ câu chuyện. ➢ Trả lời: 1. Lý Tự Trọng quê ở Hà Tĩnh, sống trong mọt gia đình yêu nước. Ông tham gia cách mạng và được cử đi học ở nước ngoài vào năm 1928. Ông nói thạo tiếng Trung Quốc và tiếng Anh. 2. Ông về nước vào mùa thu năm 1929, được giao nhiệm vụ làm liên lạc, chuyển và nhận thư tài liệu trao đổi với các đảng bạn qua đường tàu biển. Để công việc được thuận lợi hơn, ông đóng vai người nhặt than ở bến Sài Gòn. Có lần ông Trọng mang một bọc truyền đơn, gói vào chiếc màn buộc sau xe. Đi qua phố, một tên đội Tây gọi lại đòi khám, ông nhảy xuống vờ cởi bọc ra, kì thật buộc lại cho chặt hơn. Tên đội sốt ruột, quẳng xe bên lề đường, lúi húi tự mở bọc. Nhanh trí, ông vồ lấy xe của nó, nhảy lên chạy mất. Lần khác, ông chuyển tài liệu từ tàu biển lên, lính giặc giữ lại trực khám, ông nhanh chân ôm tài liệu nhảy xuống nước, lặn qua gàm tàu trốn thoát. Đầu năm 1931, trong một cuộc mít tinh, cán bộ ta đang nói chuyện trước đông đảo đồng bào, tên thanh tra mật thám Lơ – grăng ập tới, định bắt cán bộ. Lý Tự Trọng rút súng lục bắn chết tên mật thám. Không trốn kịp, ông bị giặc bắt. 3. Giặc tra tấn ông rất dã man khiến ông chết đi sống lại nhưng chúng không moi được bí mật gì ở ông. Trong nhà giam, ông được người cọi ngục rất khâm phục và kiêng nể. Họ gọi thân mật là "Ông Nhỏ". Trước tòa án, ông dõng dạc vạch mặt bọn đế quốc và tuyên truyền cách mạng. Luật sư bào chữa cho ông nói ông chưa đến tuổi thành niên hành động thiếu suy nghĩ. Ông lập tức đứng dậy nói: - Tôi chưa đến tuổi thành niên thật, nhưng tôi đủ trí khôn để hiểu rằng thanh niên Việt Nam chỉ có một con đường duy nhất là làm cách mạng, không thể có con đường nào khác Thực dân Pháp bất chấp dư luận và luật pháp, xử tử ông vào một ngày cuối năm 1931. Trước khi chết, ông hát vang bài Quốc tế ca. Năm ấy, ông mới 17 tuổi. Câu 3 (trang 9 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1): Trao đổi với các bạn về ý nghĩa của câu chuyện. ➢ Trả lời: a. Gợi ý trao đổi: + Vì sao những người coi ngục gọi anh Trọng là "Ông Nhỏ"? (Vì họ khâm phục anh Trọng tuy tuổi nhỏ nhưng chí lớn, có khí phách bất khuất của một người anh hùng.) + Anh Trọng đã gạt phắt lời luật sư bào chữa nói rằng anh chưa đến tuổi thành niên. Bạn hãy nhắc tại lời nói của anh.
- ("Tôi hành động có suy nghĩ. Mọi việc tôi làm đều có mục đích cách mạng. Tôi chưa đến tuồi thành niên thật, nhưng tôi đủ trí khôn để hiểu rằng thanh niên Việt Nam chỉ có một con đường duy nhất là làm cách mạng, không thể có con đường nào khác..."). + Vì sao thực dân Pháp bất chấp dư luận và luật pháp đã xử bắn anh Trọng dù anh chưa đến tuổi thành niên? (Vì chúng sợ khí phách anh hùng của anh và muốn khủng bố tinh thần dân chúng.) + Câu chuyện giúp bạn hiểu điều gì? (Người anh hùng nhỏ tuổi Lý Tự Trọng dám quên mình vì đồng đội. / Người thiếu niên anh hùng hiên ngang, bất khuất trước kẻ thù. / Là thanh niên, phải sống có lí tưởng vi dản, vì nước. / Làm người, phải biết yêu đất nước, dám hi sinh vì Tổ quốc.) b. Ý nghĩa cùa câu chuyện: (Ca ngợi anh Lý Tự Trọng tuổi nhỏ mà chí lớn, yêu nưức, có lí tưởng cách mạng cao đẹp, dũng cảm bảo vệ đổng chí, hiên ngang bất khuất trước kẻ thù.) Luyện từ và câu Từ đồng nghĩa trang 7, 8 Tiếng Việt lớp 5 Câu 1 (trang 7 sgk Tiếng Việt 5 Tập 1): So sánh nghĩa của các từ in đậm trong mỗi ví dụ sau: a) Sau 80 năm giời nô lệ làm cho nước nhà bị yếu hèn, ngày nay chúng ta cần phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên đã để lại cho chúng ta, làm sao cho chúng ta theo kịp các nước khác trên hoàn cầu. Trong công cuộc kiến thiết đó, nước nhà trông mong chờ đợi ở các em rất nhiều.(Hồ Chí Minh) b) Màu lúa chín dưới đồng vàng xuộm lại. Nắng nhạt ngả màu vàng hoe. Trong vườn, lắc lư những chùm quả xoan vàng lịm không trông thấy cuống, như những chuỗi tràng hạt bồ đề treo lơ lửng.(Tô Hoài) ➢ Trả lời: a) Xây dựng – kiến thiết: - Khác nhau: + Xây dựng: làm nên, gây dựng nên. + Kiến thiết: xây dựng với quy mô lớn. - Giống nhau: cùng chỉ một hành động. b) Vàng xuộm – vàng hoe – vàng lịm: - Khác nhau: + Vàng xuộm: có màu vàng đậm đều khắp. + Vàng hoe: có màu vàng pha lẫn màu đỏ. + Vàng lịm: màu vàng gợi lên cảm giác ngọt ngào, mọng nước. - Giống nhau: cùng nói về màu vàng.
- Câu 2 - Nhận xét (trang 8 sgk Tiếng Việt 5 Tập 1): Thay những từ in đậm trong mỗi ví dụ trên cho nhau rồi rút ra nhận xét: Những từ nào thay thế được cho nhau? Những từ nào không thay thế được cho nhau? Vì sao? Trả lời: + Xây dựng và kiến thiết có thể thay thế được cho nhau vì nghĩa của các từ ấy giống nhau hoàn toàn. + Vàng xuộm, vàng hoe, vàng lịm không thể thay thế cho nhau vì nghĩa của chúng không giống nhau hoàn toàn. Vàng xuộm chỉ màu vàng đậm của lúa chín. Vàng hoe chỉ màu vàng nhạt, tươi ánh lên. Còn vàng lịm chỉ màu vàng của quả chín, gợi cảm giác rất ngọt. Câu 1 (trang 8 sgk Tiếng Việt 5 Tập 1): Xếp các từ in đậm thành từng nhóm đồng nghĩa: Sau 80 năm giời nô lệ làm cho nước nhà bị yếu hèn, ngày nay chúng ta cần phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên đã để lại cho chúng ta, làm sao cho chúng ta theo kịp các nước khác trên hoàn cầu. Trong công cuộc kiến thiết đó, nước nhà trông mong chờ đợi ở các em rất nhiều. Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em.(Hồ Chí Minh) ➢ Trả lời: + nước nhà – non sông. + toàn cầu – năm châu. Câu 2 - Luyện tập (trang 8 sgk Tiếng Việt 5 Tập 1): Tìm những từ đồng nghĩa với mỗi từ sau đây: đẹp, to lớn, học tập. Mẫu: đẹp – xinh. Trả lời: - Đẹp: xinh đẹp, xinh tươi, xinh xắn, đẹp đẽ, mĩ lệ, tươi đẹp, đèm đẹp - To lớn: to tướng, to kềnh, to đùng, khổng lồ, vĩ đại, lớn, to - Học tập: học hành, học hỏi, học Câu 3 (trang 8 sgk Tiếng Việt 5 Tập 1): Đặt câu với một cặp từ đồng nghĩa em vừa tìm được ở bài tập 2. M: - Quê hương em rất đẹp. - Bé Hà rất xinh. Trả lời: - Chúng em rất chăm chỉ học hành. Ai cũng thích học hỏi những điều hay từ bạn bè. - Trọng bắt được một con tôm càng to kềnh. Còn Dương bắt được một con ếch to sụ. Tập làm văn Cấu tạo của bài văn tả cảnh trang 11 Tiếng Việt lớp 5 tập 1
- Câu 1 (trang 11 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1): Đọc và tìm các phần mở bài, thân bài, kết bài của bài văn dưới đây: Hoàng hôn trên sông Hương Cuối buổi chiều, Huế thường trở về trong một vẻ yên tĩnh lạ lùng, đến nỗi tôi cảm thấy có một cái gì đó đang lắng xuống thêm một chút nữa trong thành phố vốn hằng ngày đang rất yên tĩnh này. Mùa thu, gió thổi mây bay về phía cửa sông, mặt nước phía dưới cầu Tràng Tiền đen sẫm lại, trong khi phía trên này lên mãi gần Kim Long, mặt sông sáng màu ngọc lam in những vệt mây hồng rực rỡ của trời chiều. Hình như con sông Hương rất nhay cảm với ánh sáng nên đến lúc tối hẳn, đứng trên cầu chăm chú nhìn xuống, người ta vẫn còn thấy những mảng sắc mơ hồng ửng lên như một thứ ảo giác trên mặt nước tối thẳm. Phố ít người, con đường ven sông như dài thêm ra dưới vòm lá xanh của hai hàng cây. Phía bên sông, xóm Cồn Hến nấu cơm chiều, thả khói nghi ngút cả một vùng tre trúc. Đâu đó, từ sau khúc quanh vắng lặng của dòng sông, tiếng lanh canh của thuyền chài gỡ những mẻ cả cuối cùng truyền đi trên mặt nước, khiến mặt sông nghe như rộng hơn. Và khi dãy đèn bên đường bắt đầu thắp lên những quả tròn màu tím nhạt, chuyển dần sang màu xanh lá cây và cuối cùng nở bung ra trong màu trắng soi rõ mặt người qua lại thì khoảnh khắc yên tĩnh của buổi chiều cũng chấm dứt. Huế thức dậy trong một nhịp chuyển động mới, đi vào cuộc sống ban đầu của nó.(Theo HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG) ➢ Trả lời: a. Mở bài: (từ đầu đến yên tĩnh này). b. Thân bài: (từ Mùa thu đến chấm dứt). c. Kết bài: (từ Huế thức dậy đến của nó). Câu 2 (trang 12 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1): Thứ tự miêu tả trong bài văn trên có gì khác với bài Quang cảnh làng mạc ngày mùa mà em đã học? Từ hai bài văn đó, hãy rút ra nhận xét về cấu tạo của bài văn tả cảnh. ➢ Trả lời: Sự khác biệt về thứ tự miêu tả của hai bài văn: * Quang cảnh làng mạc ngày mùa: - Giới thiệu màu sắc bao trùm làng mạc ngày mùa là màu vàng. - Tả các màu vàng rất khác nhau của cảnh vật. - Tả thời tiết, con người. → Tóm lại: Bài văn này tả từng bộ phận của cảnh. * Hoàng hôn trên sông Hương: - Nêu nhận xét chung về sự yên tĩnh của Huế lúc hoàng hôn. - Tả sự thay đổi sắc màu của sông Hương từ lúc bắt đầu hoàng hôn đến lúc tối hẳn.
- - Tả hoạt động của con người trên bờ sông, trên mặt sông lúc bắt đầu hoàng hôn đến lúc thành phố lên đèn. - Nhận xét về sự thức dậy của Huế sau hoàng hôn. → Tóm lại: Bài này tả sự thay đổi của cảnh theo thời gian. Từ hai bài văn đã phân tích, học sinh tự rút ra nhận xét về cấu tạo của bài văn tả cảnh. Câu 1 (trang 12 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1): Nhận xét cấu tạo của bài văn sau: Nắng trưa Nắng cứ như từng dòng lửa xối xuống mặt đất. Buổi trưa ngồi trong nhà nhìn ra sân, thấy rất rõ những sợi không khí nhỏ bé, mỏng manh, nhẹ tênh, vòng vèo lượn từ mặt đất bốc lên, bốc lên mãi: Tiếng gì xa vắng thế? Tiếng võng kẽo kẹt kêu buồn buồn từ nhà ai vọng lại. Thỉnh thoàng, câu ru em cất lên từng đoạn "ạ ời " Hình như chị ru em. Em ngủ và chị cũng thiu thiu ngủ theo. Em chợt thức làm chị bừng tỉnh và tiếp tục câu ạ ời. Cho nên câu hát cứ cất lên từng đoạn rồi ngưng lại, rồi cất lên, rồi lại lịm đi trong cái nặng nề của hai mi mắt khép lại. Con gà nào cất lên một tiếng gáy. Và ở góc vườn, tiếng cục tác làm nắng trưa thêm oi ả. Không một tiếng chim, không một sợi gió. Cây chuối cũng ngủ, tàu lá lặng đi như thiếp vào nắng. Đường làng vắng ngắt. Bóng tre, bóng duối cũng lặng im. Ấy thế mà mẹ phải vơ vội cái nón cũ, đội lên đầu, bước vào trong nắng, ra đồng cấy nốt thửa ruộng chưa xong. Thương mẹ biết bao nhiêu, mẹ ơi! Theo Băng Sơn Trả lời: Bài văn được cấu tạo ba phần: a. Mở bài (câu văn đầu): Nhận xét chung về nắng trưa. b. Thân bài: Cảnh vật trong nắng trưa. Thân bài gồm 4 đoạn sau: + Đoạn 1 (từ Buổi trưa ngồi trong nhà đến bốc lên mãi): Hơi đât trong nắng trưa dữ dội. + Đoạn 2 (từ Tiếng gì xa vắng đến hai mí mắt khép lại): Tiếng võng đưa và câu hát ru em trong nắng trưa. + Đoạn 3 (từ Con gà nào đến bóng duối cũng lặng im): Cây cối và con vật trong nắng trưa. + Đoạn 4(từ Ấy thế mà đến cấy nốt thửa ruộng chưa xong): Hình ảnh người mẹ trong nắng trưa. c. Kết bài (câu cuối – kết bài mở rộng): Cảm nghĩ về mẹ ("Thương mẹ biết bao nhiêu, mẹ ơi!"). Luyện từ và câu Luyện tập về từ đồng nghĩa Tuần 1 trang 13 Tiếng Việt lớp 5
- Câu 1 (trang 13 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1): Tìm các từ đồng nghĩa: a. Chỉ màu xanh. b. Chỉ màu đỏ. c. Chỉ màu trắng. d. Chỉ màu đen. Trả lời: a. Chỉ màu xanh: xanh lơ, xanh lục, xanh ngọc, xanh biếc, xanh rờn, xanh thẫm, xanh nét, xanh tươi, xanh um, xanh sẫm, xanh ngát, xanh ngắt, xanh xao, xanh đen, xanh xanh mượt, xanh lè, xanh lét, xanh bóng b. Chỉ màu đỏ: đỏ thắm, đỏ tía, đỏ rực, đỏ hoe, đỏ gay, đỏ au, đỏ chói, đỏ sọc, đỏ lòm, đỏ ngầu, đỏ ối, đỏ hoét, đỏ ửng, đỏ hồng, c. Chỉ màu trắng: trắng lóa, trắng bóc, trắng bạch, trắng bệch, trắng nõn, trắng phau, trắng muốt, trắng tinh, trắng toát, trắng ngần, trắng ngà, trắng bong, trắng dã, trắng nuột, trắng hếu d. Chỉ màu đen: đen trũi, đen thui, đen kịt, đen sịt, đen nghịt, đen ngòm, đen láy, đen giòn, đen sì, đen lánh, đen đen, đen nhức, đen nhẻm Câu 2 (trang 13 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1): Đặt câu với một từ em vừa tìm được ở bài tập 1. Trả lời: - Minh Sắc da đen trũi vì phơi nắng gió ngoài đồng. - Ruộng lúa nhà em mới lên xanh mướt. - Kim Ngân từ trong bếp đi ra, hai má đỏ lựng vì nóng. Câu 3 (trang 13 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1): Chọn từ thích hợp trong ngoặc đơn để hoàn chỉnh bài văn sau: Trả lời: Cá hồi vượt thác Đàn cá hồi gặp thác phải nghỉ lại lấy sức để sáng mai vượt sóng. Suốt đêm thác réo điên cuồng. Nước tung lên thành những búi trắng như tơ. Suốt đêm đàn cá rậm rịch. Mặt trời vừa nhô lên. Dòng thác óng ánh sáng rực dưới nắng. Tiếng nước xối gầm vang. Những con cá hồi lấy đà lao vút lên như chim. Chúng xé toạc màn mưa thác trắng. Những đôi vây xòe ra như đôi cánh. Đàn cá hồi lần lượt vượt thác an toàn. Đậu "chân" bên kia ngọn thác, chúng chưa kịp chờ cho cơn choáng đi qua, lại hối hả lên đường. Tập làm văn Luyện tập tả cảnh trang 14 Tiếng Việt lớp 5 tập 1 Câu 1 (trang 14 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1): Đọc bài văn dưới đây và nêu nhận xét: a) Tác giả tả những sự vật gì trong buổi sớm mùa thu? b) Tác giả quan sát sự vật bằng những giác quan nào?
- c) Tìm một chi tiết thể hiện sự quan sát tinh tế của tác giả?Từ làng, Thủy đi tắt ra cánh đồng để ra bến tàu điện. Sớm đầu thu mát lạnh. Giữa những đám mây xám đục, vòm trời hiện ra như những khoảng vực xanh vòi vọi. Một vài giọt mưa loáng thoáng rơi trên chiếc khăn quàng đỏ và mái tóc xõa ngang vai của Thủy; những sợi cỏ đẫm nước lùa vào dép Thủy làm bàn chân nhỏ bé của em ướt lạnh. Người trogn làng gánh lên phố những gánh rau thơm, những bẹ cải sớm và những bó hoa huệ trắng muốt. Bầy sáo cánh đen mỏ vàng chấp chới liệng trên cánh đồng lúa mùa thu đang kết đòng. Mặt trời đã mọc trên những ngọn cây xanh tươi của thành phố.(Theo LƯU QUANG VŨ) Trả lời: a) Tả cánh đồng lúa buổi sớm: vòm trời, những giọt mưa, những sợi cỏ, những gánh rau, những bó huệ của người bán hàng, bầy sáo liệng trên cánh đồng lúa đang kết đòng, mặt trời mọc. b) Bằng cảm giác của làn da (xúc giác): thấy sớm đầu thu mát lạnh; một vài giọt mưa loáng thoáng rơi trên khăn và tóc; những sợi cỏ đẫm nước làm ướt lạnh bàn chân. Bằng mắt (thị giác): thấy mây xám đục; vòm trời xanh vòi vọi; vài giọt mưa thoáng rơi; người gánh rau và những bó huệ trắng muốt; bầy sáo lượn chấp chới trên cánh đòng lúa đang kết đòng; mặt trời mọc trên những ngọn cây xanh tươi. c) Giữa những đám mây xám đục, vòm trời hiện ra như những khoảng vực xanh vòi vọi, một vài giọt mưa loáng thoáng rơi trên chiếc khăn quàng đỏ và mái tóc xõa ngang vai của Thủy Câu 2 (trang 14 sgk Tiếng Việt lớp 5 tập 1): Lập dàn ý bài văn tả cảnh một buổi sáng (hoặc trưa, chiều) trong vườn cây (hay trong công viên, trên đường phố, trên cánh đồng, nương rẫy). Trả lời: a. Mở bài: Giới thiệu bao quát cảnh yên tĩnh của công viên vào buổi sớm. b. Thân bài (tả các bộ phận của cảnh vật): - Cây cối, chim chóc, những con đường - Mặt hồ. - Người tập thể dục, thể thao c. Kết bài: Em rất thích đến công viên vào những buổi sớm mai.

