Đề ôn tập môn Tiếng Việt Lớp 5 - Từ 23/3 đến 27/3 - Năm học 2019-2020 - Trường Tiểu học Tân Quới A
Bạn đang xem tài liệu "Đề ôn tập môn Tiếng Việt Lớp 5 - Từ 23/3 đến 27/3 - Năm học 2019-2020 - Trường Tiểu học Tân Quới A", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
de_on_tap_mon_tieng_viet_lop_5_tu_233_den_273_nam_hoc_2019_2.docx
Nội dung tài liệu: Đề ôn tập môn Tiếng Việt Lớp 5 - Từ 23/3 đến 27/3 - Năm học 2019-2020 - Trường Tiểu học Tân Quới A
- ĐỀ ÔN TẬP MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 5 ĐỀ 1: 23/3/2020 A- Kiểm tra Đọc I – Đọc thành tiếng Đọc một trong số các đoạn trích dưới đây trong bài Tập đọc đã học (SGK) (1) Mùa thảo quả (từ Sự sống cứ tiếp tục đến nhấp nháy vui mắt) TLCH: Khi thảo quả chín, rừng có những nét gì đẹp? (2) Hành trình của bầy ong (2 khổ thơ cuối) TLCH: Hai dòng thơ cuối bài nói gì về công việc của loài ong? (3) Hạt gạo làng ta (3 khổ thơ đầu) TLCH: Những điệp từ trong khổ thơ đầu nhằm nhấn mạnh điều gì? (4) Về ngôi nhà đang xây (3 khổ thơ đầu) TLCH: Những chi tiết nào vẽ nên hình ảnh một ngôi nhà đang xây? (5) Thầy thuốc như mẹ hiền (từ Hải Thượng Lãn Ông đến cho thêm gạo, củi) TLCH: Những chi tiết nào cho thấy lòng nhân ái của Lãn Ông? II – Đọc thầm và làm bài tập Lòng nhân ái thật sự Một cơn bão vừa tàn phá thị trấn nhỏ ở gần thành phố của chúng tôi làm nhiều gia đình phải sống trong cảnh khốn khó. Tất cả các tờ báo địa phương đều đăng hình ảnh và những câu chuyện thương tâm về một số gia đình mất mát nhiều nhất. Có một bức ảnh làm tôi xúc động. Một phụ nữ trẻ đứng trước ngôi nhà đổ nát của mình, gương mặt hằn sâu nỗi đau đớn. Đứng cạnh bà là một cậu bé chừng 7 hay 8 tuổi, mắt nhìn xuống. Đứa con gái nhỏ bám chặt quần mẹ, nhìn chằm chặp vào máy ảnh, mắt mở to vẻ bối rối và sợ hãi. Bài báo đi kèm kêu gọi mọi người giúp đỡ những người trong gia đình đó. Tôi nhận thấy đây sẽ là một cơ hội tốt để dạy các con mình giúp đỡ những người kém may mắn hơn. Tôi đưa tấm ảnh gia đình đó cho các con tôi xem, giải thích nỗi khổ của họ cho hai đứa con trai sinh đôi 7 tuổi và đứa con gái 3 tuổi. Tôi bảo chúng: “Chúng ta có quá nhiều trong khi những người này bây giờ không còn gì cả. Chúng ta hãy chia sẻ với họ những gì mình có.”. Tôi và hai con trai chất vào thùng cứu trợ nào đồ hộp và xà bông, mì gói, Tôi cũng khuyến khích chúng chọn ra một số đồ chơi mà chúng không chơi nữa. Đứng nhìn hai anh sắp xếp mọi thứ, con gái tôi có vẻ nghĩ ngợi. Tôi nói với con: “Mẹ sẽ giúp con tìm một thứ gì đó cho em bé trong ảnh.”. Trong lúc hai anh mình đặt những món đồ chơi cũ chúng đã chọn vào thùng, con gái tôi đi vào, tay ôm chặt con búp bê cũ kĩ nhạt màu, tóc rối bù, nhưng là
- món đồ chơi nó yêu thích nhất. Nó ôm hôn con búp bê lần chót trước khi bỏ vào thùng. Tôi nói: “Con không cần phải cho nó, con thương nó lắm mà.”. Con gái tôi gật đầu nghiêm trang: “Nó đem lại niềm vui cho con mẹ ạ, có lẽ nó cũng sẽ đem lại niềm vui cho bạn kia.” Tôi nhìn sững con, chợt nhận ra rằng bất cứ ai cũng có thể đem cho những thứ mình bỏ đi, nhưng lòng nhân ái thật sự là đem cho những gì mình yêu quý nhất. (Theo Báo điện tử - hoathuytinh.com) Câu 1. Điều gì đã khiến người mẹ trong câu chuyện cảm thấy xúc động? a- Bức ảnh trên báo đăng hình một gia đình bị bão tàn phá rất thương tâm b- Cơn bão vừa tàn phá một thị trấn làm nhiều gia đình phải sống khốn khó c- Bài báo kêu kêu gọi mọi người giúp đỡ những người trong gia đình bị gặp nạn Câu 2. Người mẹ muốn dạy các con mình điều gì? a- Biết cho đi những thứ mà mình không cần dùng nữa trong cuộc sống b- Biết nhận ra mình là người may mắn và giúp đỡ người gặp khó khăn c- Biết chia sẻ với những con người đã gặp hoàn cảnh không may mắn Câu 3. Cô bé 3 tuổi đã gửi bạn gái trong bức ảnh cái gì? a- Rất nhiều đồ hộp, xà bông, mì gói và đồ chơi cũ b- Con búp bê cũ nhưng là đồ chơi bé yêu thích nhất c- Con búp bê cũ là đồ chơi bé không thích chơi nữa Câu 4. Câu nói của cô con gái 3 tuổi làm người mẹ sững người và nhận ra điều gì? a- Đem cho tất cả những gì mình có mới là lòng nhân ái thực sự b- Đem cho những thứ mình yêu quý nhất mới là lòng nhân ái thực sự c- Đem cho bất cứ cái gì của mình cũng thể hiện lòng nhân ái Câu 5. Dòng nào dưới đây gồm 3 từ đồng nghĩa với từ nhân nghĩa? a- nhân đức, nhân hậu, thiện chí b- nhân đức, nhân từ, lương thiện c- nhân đức, nhân hậu, nhân từ Câu 6. Dòng nào dưới đây gồm 3 từ trái nghĩa với từ nhân nghĩa? a- độc ác, hung bạo, bất lương b- hung bạo, ác nghiệt, bất tử c- ác nghiệt, hung tàn, dữ dội Câu 7. Dòng nào dưới đây có từ đồng âm? a- bàn bạc / bàn cãi b- bàn chân / bàn công việc c- bàn tay / bàn học
- Câu 8. Dòng nào dưới đây ghi đúng 3 đại từ xưng hô trong 2 câu “Ta băn khoăn tìm cách cứu dân khỏi cảnh hạn hán. Con có thể cùng thầy bàn mưu cứu trăm họ được không?”? a- ta, dân, thầy b- con, thầy, họ c- ta, con, thầy Câu 9. Câu “Tất cả các tờ báo địa phương đều đăng hình ảnh và những câu chuyện thương tâm về một số gia đình mất mát nhiều nhất.” thuộc kiểu câu nào em đã học? a- Ai làm gì? b- Ai thế nào? c- Ai là gì? Câu 10. Bộ phận chủ ngữ trong câu “Nó ôm hôn con búp bê lần chót trước khi bỏ vào thùng.” Là từ ngữ nào? a- Nó b- Nó ôm hôn c- Nó ôm hôn con búp bê lần chót B . Kiểm tra Viết Chính tả nghe – viết Mùa xuân Lá cứ lặng lẽ rụng. Chim cứ lặng lẽ chuyền cành. Các giống hoa cứ lặng lẽ đơm nụ. Thời gian thầm thì gọi mùa xuân đến, không vội vàng mà chắc chắn. Bỗng một buổi sớm, tiếng chích chòe vang lên lảnh lót, hương hoa bưởi lan tỏa khắp vườn. Những chú ong mật tíu tít bay đến những chùm hoa chúm chím. Cây đào lốm đốm những nụ phớt hồng. Mùa xuân đã đến rồi đấy, thật bất ngờ như đã được mong đợi từ lâu. (Theo Vũ Nam) Chú ý: HS nhờ người khác đọc từng câu để viết bài chính tả trên giấy kẻ ô li.
- ĐỀ 2: 24/3/2020 Đọc thầm và làm bài tập: 1. Đọc thầm bài: Về ngôi nhà đang xây Chiều đi học về Chúng em qua ngôi nhà xây dở Giàn giáo tựa cái lồng che chở Trụ bê tông nhú lên như một mầm cây Bác thợ nề ra về còn huơ huơ cái bay: Tạm biệt! Ngôi nhà tựa vào nền trời sẫm biếc Thở ra mùi vôi vữa nồng hăng Ngôi nhà giống bài thơ sắp làm xong Là bức tranh còn nguyên màu vôi, gạch. Bầy chim đi ăn về Rót vào ô cửa chưa sơn vài nốt nhạc. Nắng đứng ngủ quên Trên những bức tường Làn gió nào về mang hương Ủ đầy những rảnh tường chưa trát vữa. Bao ngôi nhà đã hoàn thành Đều qua những ngày xây dở. Ngôi nhà như trẻ nhỏ Lớn lên với trời xanh Đồng Xuân Lan 2. Làm bài tập: Dựa vào nội dung bài đọc, hãy khoanh tròn vào chữ trước câu trả lời đúng nhất. Câu 1: Trong bài, các bạn nhỏ đứng ngắm ngôi nhà đang xây dở vào thời gian nào? a. Sáng b. Trưa c. Chiều Câu 2: Công việc thường làm của người thợ nề là: a. Sửa đường b. Xây nhà c. Quét vôi Câu 3: Cách nghỉ hơi đúng ở dòng thơ “chiều đi học về” là: a. Chiều/ đi học về b. Chiều đi/ học về c. Chiều đi học/ về Câu 4: Hình ảnh ngôi nhà đang xây nói lên điều gì? a. Sự đổi mới hằng ngày trên đất nước ta.
- b. Cuộc sống giàu đẹp của đất nước ta. c. Đất nước ta có nhiều công trình xây dựng. Câu 5: Trong bài thơ, tác giả đã quan sát bằng những giác quan nào? a. Thị giác, khứu giác, xúc giác. b. Thị giác, vị giác, khứu giác. c. Thị giác, thính giác, khứu giác. Câu 6: Bộ phận chủ ngữ trong câu “trụ bê tông nhú lên như một mầm cây” a. Trụ b. Trụ bê tông c. Trụ bê tông nhú lên Câu 7: Có thể điền vào chỗ trống trong câu “ngôi nhà tựa vào nền trời sẫm biếc ..thở ra mùi vôi vữa nồng hăng” bằng quan hệ từ. a. còn b. và c. mà Câu 8: Từ “tựa” trong “giàn giáo tựa cái lồng” và từ “tựa” trong “ngôi nhà tựa vào nền trời sẫm biếc” là những từ: a. Cùng nghĩa b. Nhiều nghĩa c. Đồng âm Câu 9: Tìm 1 hình ảnh so sánh và 1 hình ảnh nhân hóa trong bài thơ.
- ĐỀ 3: 25/3/2020 Đọc thầm: RỪNG PHƯƠNG NAM Rừng cây im lặng quá. Một tiếng lá rơi lúc này cũng có thể khiến người ta giật mình. Lạ quá, chim chóc chẳng nghe con nào kêu. Hay vừa có tiếng chim ở một nơi nào xa lắm, vì không chú ý mà tôi không nghe chăng ? Gió bắt đầu nổi rào rào cùng với khối mặt trời tròn đang tuôn ánh sáng vàng rực xuống mặt đất. Một làn hơi đất nhè nhẹ tỏa lên, phủ mờ những cây cúc áo, rồi tan dần theo hơi ấm mặt trời. Phút yên tĩnh của rừng ban mai dần biến đi. Chim hót líu lo. Nắng bốc hương hoa tràm thơm ngây ngất. Gió đưa mùi hương ngọt lan xa, phảng phất khắp rừng. Mấy con kì nhông nằm phơi lưng trên gốc cây mục, sắc da lưng luôn luôn biến đổi từ xanh hóa vàng, từ vàng hóa đỏ, từ đỏ hóa tím xanh...Con Luốc động đậy cánh mũi, rón rén bò tới. Nghe động tiếng chân con chó săn nguy hiểm, những con vật thuộc loài bò sát có bốn chân to hơn ngón chân cái kia liền quét chiếc đuôi dài chạy tứ tán, con núp chỗ gốc cây thì biến thành màu xám vỏ cây, con đeo trên tán lá ngái thì bến ra màu xanh lá ngái. Thoắt cái, cả một khoảng rừng nguyên sơ đã trở lại vẻ tĩnh lặng. Con chó săn bỗng ngơ ngác, không hiểu các con vật trước mặt làm thế nào lại biến đi một cách nhanh chóng như vậy. Theo ĐOÀN GIỎI Hãy chọn ý trả lời đúng với các câu 1,3,4,5,6,7.8 Câu 1: Đoạn thứ hai của bài (từ Gió bắt đầu nổi...đến...biến đi) tả cảnh rừng phương nam vào thời gian nào ? A. Lúc ban trưa B. Lúc ban mai C. Lúc hoàng hôn Câu 2: Câu “ Một tiếng lá rơi lúc này cũng có thể khiến người ta giật mình.” Muốn nói điều gì? Hãy viết câu trả lời của em: Câu 3: Tác giả tả mùi hoa tràm như thế nào? A. Thơm ngan ngát, tỏa ra khắp rừng cây. B. Thơm ngọt ngào, theo gió bay đi khắp nơi.
- C. Thơm ngây ngất, phảng phất khắp rừng. Câu 4: Những con vật trong rừng biến đổi màu sắc để làm gì? A.Để làm cho cảnh sắc của rừng thêm đẹp đẽ, sinh động. B. Để phù hợp với màu sắc xung quanh và tự bảo vệ mình. C. Để phô bày vẻ đẹp mới của mình với các con vật khác. Câu 5: Em hiểu “thơm ngây ngất” nghĩa là thơm như thế nào? A. Thơm rất đậm, đến mức làm cho ta khó chịu. B. Thơm một cách mạnh mẽ, làm lay động mọi vật. C. Thơm một cách hấp dẫn, làm ta say mê, thích thú. Câu 6: Chủ ngữ trong câu: Phút yên tĩnh của rừng ban mai dần biến đi.” Là những từ ngữ nào ? A.Phút yên tĩnh B. Phút yên tĩnh của rừng ban mai C. Phút yên tĩnh của rừng ban mai dần dần Câu 7: Câu nào dưới dây có dùng quan hệ từ ? A.Chim hót líu lo. B.Phút yên tĩnh của rừng ban mai dần biến đi. C. Nắng bốc hương hoa tràm thơm ngây ngất. Câu 8: Dòng nào dưới đây gồm các từ trái nghĩa với từ “im lặng” A .Ồn ào, nhộn nhịp, đông đúc. B. Ồn ào, náo nhiệt, huyên náo. C. Ồn ào, nhộn nhịp, vui vẻ. Câu 9: Các từ in đậm trong câu “Gió bắt đầu nổi rào rào cùng với khối mặt trời tròn đang tuôn ánh sáng vàng rực xuống mặt đất.” Thuộc những từ loại gì ? ................................................................................................................................ ................................................................................................................................ Câu 10: Em hãy thêm cặp quan hệ từ thích hợp vào câu văn sau: “Nghe động tiếng chân con chó săn nguy hiểm, những con vật thuộc loài bò sát có bốn chân to hơn ngón chân cái kia liền quét chiếc đuôi dài chạy tứ tán.”
- ................................................................................................................................ ................................................................................................................................ ............................................................................................................................... Kiểm tra viết Chính tả. Nghe – Viết: Chuỗi ngọc lam( từ Pi-e ngạc nhiên đến cô bé mỉm cười rạng rỡ, chạy vụt đi)
- ĐỀ 4: 26/3/2020 A. PHẦN ĐỌC: a. Đọc thành tiếng: Đoạn 1: “Một sớm chủ nhật có gì lạ đâu hả cháu” Bài Chuyện một khu vườn nhỏ sách TV5 tập 1 trang 103. Đoạn 2: “Sự sống cứ tiếp tục nhấp nháy vui mắt” Bài Mùa thảo quả sách TV5 tập 1 trang 114. Đoạn 3: “Nhờ phục hồi vững chắc đê điều” Bài Trồng rừng ngập mặn sách TV5 tập 1 trang 129. Đoạn 4: “Học thuộc lòng ba khổ thơ cuối bài” Bài Hạt gạo làng ta sách TV5 tập 1 trang 139. Đoạn 5: “Y Hoa đến bên gài Rok xem cái chữ nào” Bài Buôn Chư Lênh đón cô giáo sách TV5 tập 1 trang 144, 145. Đoạn 6: “Hải Thượng Lãn Ông cho thêm gạo, củi” Bài Thầy thuốc như mẹ hiền sách TV5 tập 1 trang 153. Đoạn 7: “Cụ Ún làm nghề thầy cúng cụ mới chịu đi” Bài Thầy cúng đi bệnh viện sách TV5 tập 1 trang 158. Đoạn 8: “Khách đến xã Trịnh Tường đất hoang trồng lúa” Bài Ngu Công xã Trịnh Tường sách TV5 tập 1 trang 164. b. Đọc thầm bài văn sau: Cảnh đông con Mẹ con bác Lê ở một căn nhà cuối phố, một căn nhà cũng lụp xụp như những căn nhà khác, có mỗi một chiếc giường nan đã gãy nát. Mùa rét thì rải ổ rơm đầy nhà, mẹ con cùng nằm ngủ trên đó. Từ sáng sớm tinh sương, mùa nực cũng như mùa rét, bác ta phải trở dậy đi làm mướn cho những người có ruộng trong làng. Những ngày có người mướn, tuy bác phải làm vất vả, nhưng chắc chắn buổi tối được mấy bát gạo và mấy đồng xu về nuôi lũ con đói đợi ở nhà. Đó là những ngày sung sướng. Nhưng đến mùa rét, khi các ruộng kia đã gặt rồi, cánh đồng chỉ còn trơ cuống rạ, bác Lê lo sợ vì không ai mướn làm việc gì nữa. Thế là cả nhà chịu đói. Mấy đứa nhỏ nhất khóc lả đi mà không có cái ăn. Dưới manh áo rách nát, thịt chúng nó thâm tím lại vì rét. Bác Lê ôm lấy con trong ổ rơm lấy cái hơi ấm của mình ấp ủ cho nó. Hai thằng con lớn thì từ sáng đã ra cánh đồng kiếm con cua, con ốc hay đi mót những bông lúa còn sót lại trong khe ruộng. Thật là sung sướng, nếu chúng
- đem về được một lượm, trong những ngày may mắn. Vội vàng bác Lê đẩy con ra lấy bó lúa để dưới chân vò nát, vét hột thóc, giã lấy gạo. Rồi một bữa cơm lúc buổi tối giá rét, mẹ con xúm quanh nồi, trong khi bên ngoài gió lạnh rít qua mái tranh. Thạch Lam Dựa vào nội dung bài đọc, em hãy khoanh tròn vào trước ý trả lời đúng. Câu 1: Nguồn sống của gia đình bác Lê thu nhập từ: a. Ruộng của nhà bác Lê. b. Đi làm mướn. c. Đồng lương của bác Lê. d. Đi xin ăn. Câu 2: Chi tiết nói lên cảnh cơ cực, nghèo đói của gia đình bác Lê là: a. Ăn đói, mặc rách. b. Nhà cửa lụp xụp. b. Từ sáng đã ra cánh đồng kiếm con cua, con ốc. d. Cả 3 ý trên đều đúng. Câu 3: Trong câu “Bác Lê lo sợ vì không ai mướn làm việc gì nữa” quan hệ từ là: a. Vì b. Gì c. Làm d. Không Câu 4: Chủ ngữ trong câu : “mùa nực cũng như mùa rét, bác ta phải trở dậy đi làm mướn.” là: a. Mùa nực b. Mùa rét c. Bác ta d. Bác ta phải trở dậy Câu 5: Từ trái nghĩa với cực khổ là: a. Sung sướng b. Siêng năng c. Lười biếng d. Cực khổ Câu 6: Quan hệ từ thích hợp điền vào chỗ chấm trong câu sau: “Học tập quả là khó khăn .. gian khổ” a. Nhưng b. Mà c. Và d. Thì Câu 7: Em hãy nêu nguyên nhân dẫn đến gia đình Bác Lê nghèo đói. ........................................................................................................................ B. PHẦN VIẾT: Viết chính tả: Công nhân sửa đường. Bác Tâm, mẹ của Thư, đang chăm chú làm việc. Bác đi một đôi găng tay bằng vải rất dày. Vì thế, tay của bác y như tay một người khổng lồ. Bác đội nón, khăn trùm gần kín mặt, chỉ để hở mỗi cái mũi và đôi mắt. Tay phải bác cầm một chiếc búa. Tay trái bác xếp rất khéo những viên đá bọc nhựa đường đen nhánh

